mo-hinh-nuoi-tom-the-chan-trang

Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng

MÔ HÌNH NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG

Tôm thẻ là loài thủy sản có nguồn dinh dưỡng cao và là món ăn phổ biến hằng ngày của người Việt. Không những thế, tôm thẻ còn nằm trong danh sách các mặt hàng thủy sản xuất khẩu lớn nhất nước ta.

Hình thức nuôi

Tôm chân trắng hay tôm P.vannamei là loại tôm có cường độ bắt mồi khoẻ, lớn nhanh thích hợp với các hình thức nuôi thâm canh như mô hình ít thay nước, mô hình tuần hoàn khép kín. Diện tích ao nuôi từ 0,5 – 1ha, độ sâu của nước 1,5 – 2m, mật độ từ 25 – 60 con/m2 như tôm sú nhưng thời gian nuôi chỉ cần 80 ngày tôm đạt cỡ 50 con/kg, trong khi đó tôm sú phải cần 110 – 120 ngày.

Chọn vùng nuôi

Ðịa hình phù hợp cho việc xây dựng ao nuôi công nghiệp là vùng cao triều mới thuận lợi cho việc cấp nước, thoát nước và phơi khô đáy ao khi cải tạo. Tôm P.vannamei không thích sống ở ao đáy cát hoặc đáy bùn nên đất xây dựng ao phải là đất thịt hoặc đất pha cát, ít mùn hữu cơ, có kết cấu chặt, giữ được nước, pH của đất phải từ 5 trở lên.

Nguồn nước cung cấp chủ động, không bị ô nhiễm công nghiệp, nông nghiệp hoặc sinh hoạt pH của nước từ 8,0 đến 8,3. Ðộ mặn từ 10 – 25 .

Về kinh tế xã hội : Nên chọn địa điểm vùng nuôi thuận lợi về giao thông, gần nguồn điện, gần nơi cung cấp các dịch vụ cho nghề nuôi tôm và an ninh trật tự tốt.

Thời vụ nuôi

Tôm P.vannamei là loại tôm rộng độ mặn, rộng nhiệt, nhưng phạm vi thích hợp để tôm sinh trưởng nhanh có giới hạn. ở các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ thời gian tháng 2 hằng năm nhiệt độ nước còn dưới 18 độ C. Mùa mưa bão thường xảy ra trong tháng 8 và tháng 9. Do vậy, vụ nuôi tôm chỉ bắt đầu được từ cuối tháng 3, đầu tháng 4 đến hết tháng 7 và vụ II từ tháng 10 đến tháng 12. ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ và Nam Bộ vụ nuôi từ tháng 1 tháng 2 đến hết tháng 8, mỗi vụ từ 3 đến 4 tháng, mùa mưa từ tháng 9 – 11 hằng năm.

Xây dựng công trình nuôi

  1. Ao nuôi

Công trình nuôi tôm P.vannamei có kết cấu tương tự như công trình nuôi tôm sú. Mô hình nuôi phổ biến có năng suất cao là mô hình ít thay nước. Diện tích từ 0,5 đến 1 ha. Hình dạng của ao là hình vuông, hình tròn hoặc hình chữ nhật, chiều dài/chiền rộng 2, thuận tiện cho việc tạo dòng chảy trong ao khi đặt máy quạt nước dồn chất thải vào giữa ao để thu gom và tẩy dọn ao. Ðáy ao bằng phẳng, có độ dốc khoảng 15oC nghiêng về phía cống thoát.

  1. Ao chứa – lắng

Khu vực nuôi phải có ao chứa – lắng để trữ nước và xử lý nước trước khi cấp cho các ao nuôi. Diện tích ao chứa – lắng thường bằng 25 – 30% diện tích khu nuôi, đáy ao chứa – lắng nên cao bằng mặt nước cao nhất của ao nuôi để có thể tự cấp nước cho ao nuôi bằng hình thức tháo cống mà không cần phải bơm. Nước lấy vào ao chứa – lắng là nước biển qua cống hoặc bơm tuỳ theo mức thuỷ triều của vùng nuôi. Nếu độ mặn quá cao nước biển phải pha đấu với nước ngọt để hạ độ mặn theo yêu cầu của kỹ thuật nuôi.

 

 

  1. Ao xử lý thải

Khu vực nuôi còn cần phải có ao xử lý nước thải, diện tích bằng 5 – 10% diện tích khu vực nuôi để xử lý nước ao nuôi sau khi thu hoạch thành nước sạch không còn mầm bệnh mới được thải ra biển.

  1. Mương cấp, mương tiêu

Mương cấp và mương tiêu để cấp cho các ao nuôi và dẫn nước của ao nuôi ra ao xử lý thải. Mương cấp cao bằng mặt nước cao của ao nuôi và mương tiêu thấp hơn đáy ao 20 – 30 cmm để thoát hết được nước trong ao khi cần tháo cạn. Hệ thống mương cấp mương tiêu khoảng 10% diện tích khu vực nuôi.

  1. Hệ thống bờ ao, đê bao

Ao nuôi tôm thông thường phải có độ sâu của nước 1,5m và bờ ao tối thiểu cao hơn mặt nước 0,5m. Ðộ dốc của bờ phụ thuộc vào chất đất khu vực xây dựng ao nuôi. Ðất cát dễ xói lở bờ ao nên có độ dốc là 1/1,5, đất sét ít xói lở hơn, độ dốc của bờ ao có thể là 1/1.

Cần lưu ý là bờ ao không cao, nước nông, sẽ tạo điều kiện cho rong, tảo dưới đáy ao phát triển làm suy giảm chất lượng nước ao nuôi.

Một số bờ ao trong khu vực nuôi nên đắp rộng hơn các bờ khác để làm đường vận chuyển nguyên vật liệu cho khu vực nuôi.

Ðê bao quanh khu vực nuôi thường là bờ của kênh mương cấp hoặc tiêu nước. Hệ số mái tương tự ao nuôi nhưng bề mặt lớn hơn và độ cao của đê phải cao hơn lúc thuỷ triều cao nhất hoặc nước lũ trong mùa mưa lớn nhất 0,5 – 1m.

  1. Cống cấp và cống tháo nước

Mỗi ao phải có một cống cấp và một cống tháo nước riêng biệt. Vật liệu xây dựng cống là xi măng, khẩu độ cống phụ thuộc vào kích thước ao nuôi, thông thường ao rộng 0,5 – 1 ha, công có khẩu độ 0,5 – 1m bảo đảm trong vòng 4 – 6 tiếng có thể cấp đủ hoặc khi tháo có thể tháo hết nước trong ao.

Cống tháo đặt thấp hơn chỗ thấp nhất của đáy ao 0,2 – 0,3 m để tháo toàn bộ nước trong ao khi bắt tôm.

  1. Bãi thải

Tuỳ quy mô khu vực nuôi và hình thức nuôi tôm để thiết kế bãi thải nhằm thu gom rác thải và mùn bã hữu cơ ở đáy ao xử lý thành phân bón hoặc rác thải di chuyển đi nơi khác để chống ô nhiễm cho khu vực.

Cải tạo ao nuôi

  1. Cải tạo đáy ao

Ðối với ao mới xây dựng xong cho nước vào ngâm 2 – 3 ngày rồi lại xả hết nước để tháo rửa. Tháo rửa như vậy 2 đến 3 lần sau đấy dùng vôi bột để khử chua cả bờ và đáy ao. Lượng vôi tuỳ theo pH của đất đáy ao :

  • pH 6 – 7 dùng 300 – 400 kg/ha;
  • pH 4,5 – 6 dùng 500 – 1.000 kg/ha.

Rắc vôi xong phơi ao 7 – 10 ngày lấy nước qua lưới lọc sinh vật có mắt lưới 9 – 10 lỗ/cm2. Gây mầu nước để chuẩn bị thả giống.

Ðối với ao cũ sau khi thu hoạch xả hết nước ao cũ. Nếu tháo kiệt được thì nạo vét hết lớp bùn nhão rồi cầy xới đáy ao lên trộn với vôi bột mỗi ha 500 – 1.000 kg phơi khô 10 – 15 ngày, lấy nước vào qua lưới lọc để gây mầu nước như trên. Nếu ao không tháo cạn được thì dùng bơm, bơm sục đáy ao để tẩy rửa chất thải sau đó bón vôi diệt tạp. Vôi thường dùng là vôi nung CaO với liều lượng từ 1.200 – 1.500 kg/ha cho ao với mực nước 10 cm, với ao có mực nước sâu 0,5 – 1m lượng vôi nhiều hơn gấp đôi. Lượng vôi nhiều hay ít phụ thuộc vào chỉ số pH của nước ao. Bón vôi xong yêu cầu chỉ số pH của nước ao phải đạt 8 – 8,3 mới được thả tôm giống để nuôi. Hoặc dùng phương pháp cho vôi vào lồng tre buộc sau thuyền gỗ di chuyển trong ao. Ao có mức nước sâu 0,5 – 1m mỗi ha dùng 1.500 – 2.000 kg vôi nung có thể diệt hết côn trùng, địch hại cho tôm trong ao. Thời gian còn tác dụng là 7 – 8 ngày sau khi diệt tạp.

Những ao đầm sau đây không được dùng vôi để sát trùng:

  • Ao có đáy hoặc nước ao hàm lượng Ca++ quá cao; bón vôi làm cho Ca++ kết hợp với PO=4 lắng xuống gây nên hiện tượng thiếu lân trong ao; thực vật phù du và rong tảo không phát triển được, không gây được màu nước cho ao;
  • Ao có hàm lượng hữu cơ quá thấp, bón vôi làm cho quá trình phân giải hữu cơ tăng lên làm cho nước quá gầy không có lợi cho sinh vật sống trong ao; nếu dùng vôi để sát trùng sau đó bón phân hữu cơ hoặc phân lân ao mới dùng lại được;
  • Bón vôi quá liều lượng làm cho nhiệt độ nước lên cao, pH cao, NH3 cao, độc tính lớn dẫn đến bệnh tôm phát triển;
  • Dùng vôi sát trùng xong không được bón phân urê; phân urê làm tăng NH4-N trong nước, phá hoại tổ chức mang của tôm, cản trở sự vận chuyển màu làm tôm bị chết.

* Một số lưu ý quan tâm:

  • Quá trình tháo nước ao cũ phải kết hợp sục bùn làm sạch ao; vét bớt bùn ô nhiễm ở đáy ao;
  • Quá trình tu bổ bờ ao phải bắt diệt hết ếch, rắn, các loại động vật làm hang sống ở bờ ao, lấp các hang hố quanh bờ ao;
  • Sau khi rắc vôi xong, dùng cào trộn đều khắp đáy ao để diệt hết cá tạp và sinh vật có hại; cày đảo đáy ao cho ôxy hoá lớp bùn đáy; phơi khô 10 – 15 ngày mới cho nước vào ao; khi cho nước cần trộn thêm một ít chế phẩm sinh học và chế phẩm ôxy hoá để khử chất độc và phân giải các hợp chất hữu cơ trong ao;
  • Nếu đáy ao quá chua, hàm lượng sắt quá cao hoặc khả năng thẩm lậu quá lớn không giữ được nước nên dùng lớp vải nilông nhân tạo lót đáy ao; tuỳ theo đối tượng nuôi có thể cho thêm một lớp cát dày 2 – 3 cm trên lớp vải lót để tôm vùi mình theo tập tính sống của tôm.
  1. Diệt tạp

Nước lấy vào ao qua lưới lọc để 2 – 3 ngày cho các loại trứng theo nước vào ao nở hết rồi tiến hành diệt bằng saponine với nồng độ 15 – 20 ppm (15-20 g/m3 nước ao).

Saponine là bột hạt chè ta uống hàng ngày. Nơi có điều kiện dùng hạt chè nghiền thành bột ngâm vào nước ngọt 26 giờ, nếu cần gấp thì ngâm vào nước nóng cũng được. Ngâm xong đem lọc lấy dung dịch lọc được phun xuống ao. Ao có mức nước sâu 1m, mỗi ha dùng 150 – 180 kg hạt chè xử lý như trên sau 40 phút có thể diệt được hầu hết cá dữ. Nhưng dùng nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của tôm, thậm chí làm tôm sinh bệnh.

Dùng saponine diệt tạp xong phải thay nước mới được thả tôm giống.

Hạt chè được chế biến thành thương phẩm có tên là sapotech để cung cấp cho các nơi không tự túc được hạt chè, sapotech được đóng trong bao nilong bọc giấy, khi dùng đem ra pha nước tạt xuống ao, lượng dùng là 4,5 – 5 g/m2, cho ao có mức nước sâu khoảng 10 cm. Sau 15 – 20 giờ thay nước hoặc cho thêm nước vào ao mới được thả tôm giống.

  1. Khử trùng nguồn nước

Trong nước ao thường có nhiều loại virus, vi khuẩn, nấm, tảo và nguyên sinh động vật sinh ra các loại bệnh cho tôm như bệnh đầu vàng, bệnh đốm trắng, bệnh MBV, bệnh phát sáng, bệnh đóng rong, bệnh đỏ mang, bệnh hoại tử phụ bộ, … Vì vậy, trước khi thả tôm giống cần phải khử trùng nguồn nước. Hoá chất dùng để khử trùng nguồn nước phổ biến là chlorine. Chlorine có hàm lượng Cl 30 – 38%, để lâu sẽ bốc hơi mất tác dụng nên thường phải xác định lại nồng độ cho chính xác trước khi dùng.

Nồng độ 2 ppm có tác dụng diệt khuẩn rất tốt. Ao có mức nước sâu 1m, mỗi ha dùng 195 kg hoà loãng với nước ao phun đều khắp ao. Nếu phun vào những ngày trời dâm mát, tác dụng diệt khuẩn có thể kéo dài 4 đến 5 ngày. Trước khi thả tôm giống phải mở máy quạt nước cho bay hết khí chlo còn lại trong nước. Chú ý, không dùng chlorine ngay sau khi sử dụng vôi sống vì gặp nước chlorine sản sinh ra HCl, vôi sống sinh ra OH hai thứ trung hoà lẫn nhau làm mất tác dụng diệt khuẩn của từng loại.

Bón phân gây màu nước

  1. Màu nước

Màu nước là màu của nước được thể hiện dưới ánh sáng mặt trời. Các yếu tố hợp thành màu của nước là các ion kim loại, mùn bã hữu cơ tan trong nước, bùn đáy, chất huyền phù, chất keo, đặc biệt là các loại sinh vật sống trong nước nhất là các tảo đơn bào.

Màu nước đậm hay nhạt là thể hiện các chất hữu cơ nói trên và mật độ các loại tảo có trong nước nhiều hay ít.

Lượng tảo đơn bào có trong nước nhiều hay ít, thành phần giống loài gì phụ thuộc vào nồng độ và tỉ lệ các loại phân bón. Ví dụ tỉ lệ N/P = 3/1 – 7/1 thì đa số các loài tảo có trong ao là tảo lục làm cho nước có màu xanh lục.

Tỷ lệ N/P = 10/1 thì đa số các loại tảo trong nước là tảo khuê, làm cho nước có màu vàng lá chuối non.

Màu nước có ý nghĩa rất lớn đối với ao nuôi tôm để :

  • Làm tăng lượng ôxy hoà tan trong nước;
  • Ổn định chất nước và làm giảm các chất độc trong nước;
  • Làm thức ăn bổ sung cho tôm;
  • Giảm độ trong của nước giúp cho tôm nuôi dễ tránh địch hại;
  • Nâng nhiệt và ổn định nhiệt trong ao;
  • Hạn chế tảo sợi và tảo đáy phát triển;
  • Hạn chế các loại vi khuẩn gây bệnh phát triển; đảm bảo cân bằng sinh thái vùng nước.
  1. Ðặc trưng của các loại màu nước

      2.1 Màu mận chín

Chủ yếu là tảo khuê, rất có lợi đối với tôm. Thành phần chủ yếu của các loại tảo là closteriopsis longissima (L); schroederia, spirotaenia, surrirella biseriata (B), tiểu cầu tảo …

Các loài tảo này là thức ăn của ấu trùng tôm ở giai đoạn hậu ấu trùng.

2.2 Màu xanh nhạt hoặc xanh đậm

Thường được gọi là xanh vỏ đậu. Thành phần chủ yếu là tảo lục. Tảo lục hấp thụ rất nhiều đạm hữu cơ nên dễ làm sạch nước có lợi cho tôm.

       2.3 Màu xanh đậm
Chủ yếu là tảo lam, tảo lục, thường thấy ở ao cũ. Tỷ lệ sống của tôm ở ao này không cao lắm.

      2.4 Màu xám hoặc màu nước tương
Chủ yếu là tảo chromulina, englenaacus đây là những ao do quản lý không tốt để dư thừa thức ăn quá nhiều làm nước bị ô nhiêmx nên tôm dễ chết.

      2.5 Màu vàng
Là những ao có vật hữu cơ tích luỹ quá nhiều, qua quá trình phân giải của vi sinh làm cho pH giảm thấp, không thích hợp cho việc nuôi tôm. Các loại tảo chủ yếu ở đây là tảo chromulina hoặc schroederia.

      2.6 Màu trắng đục hoặc hơi đục
Chủ yếu là các loại động vật như copepoda và các hạt hữu cơ nhỏ li ti. Tôm nuôi ở đây rất dễ bị bệnh và tỷ lệ sống rất thấp.

      2.7 Màu trong vắt
Trong nước có nhiều kim loại nặng và vật gây bệnh cho tôm, pH thấp, ít sinh vật phù du, không nuôi được tôm. Việc cải tạo ao nuôi cũng như bón phân gây màu nước là tạo điều kiện sinh thái thích hợp với đời sống của tôm để tôm sống lớn nhanh theo kế hoạch sản xuất của người nuôi. Những chỉ tiêu đó được thể hiện qua màu sắc của nước như đã nói trên và các chỉ tiêu lý hoá của nước.

  1. Các chỉ tiêu lý hoá nước ao nuôi tôm

Một số chỉ tiêu lý hoá được coi là tốt như sau:

  • Ôxy hoà tan trên 4 mg/l;
  • pH 8,0 – 8,5; trong ngày không được thay đổi quá 0,4 – 0,5 độ;
  • Nhiệt độ không được quá cao hay quá thấp lâu ngày; thích hợp nhất là 20 – 30oC, quá cao không quá 33,5 độ C, quá thấp không thấp quá 18 độ C;
  • Ðộ kiềm trong khoảng 100 đến 250 mg/l;
  • NH4, NO3 không được tăng quá đột ngột để sinh bệnh cho tôm;
  • Ðộ trong 35 5 cm; màu nước là màu xanh lục hoặc màu mận chín;
  • Ðộ mặn 5 – 32 thích hợp nhất là 10 – 25 ;
  • Nếu pha với nước ngọt độ mặn có thể giảm đến 1 – 2 (gần như nước ngọt) tôm vẫn có thể sống được nhưng phải giảm từ từ.

Thả giống

  1. Chọn tôm giống

Sau khi ao xây dựng xong hoặc cải tạo đạt tiêu chuẩn; lấy nước, bón phân gây màu xong phải thả tôm giống kịp thời. Nếu để lâu sinh vật trong nước lại phát triển ảnh hưởng đến các chỉ tiêu lý – hoá – sinh của môi trường, muốn thả giống phải cải tạo, xử lý lại môi trường gây tốn kém và ảnh hưởng tới tiến độ nuôi.

Trước khi thả giống phải kiểm tra chất lượng tôm giống. Tôm giống đạt tiêu chuẩn là: Tôm không mang các mầm bệnh mà hiện nay khoa học đã phát hiện thấy, có phổ biến ở các loại tôm như bệnh đốm trắng (WSSV), bệnh đỏ đuôi (TSV) bệnh MBV, bệnh phát sáng, bệnh đóng rong, bệnh hoại tử phụ bộ, … Loại tôm này được mệnh danh là tôm sạch bệnh. Hiện nay chỉ có loài P.vannamei do Viện OI của Hoa Kỳ chọn giống tạo ra mới là tôm sạch bệnh. Các loài tôm khác kể cả loài vannamei, nhưng sản xuất giống ở nơi khác không bảo đảm công nghệ của OI không thể gọi định là tôm sạch bệnh SPF.

Tôm phải khoẻ. Dùng 50 – 100 tôm giống có chiều dài 1 – 1,2 cm để kiểm tra hình dạng. Tôm khoẻ là tôm không dị hình, không có thương tích, các phụ bộ đầy đủ, các cơ đầy đặn, màu trong, ruột, dạ dày no, thích bơi ngược dòng, khi bơi hoạt bát, cơ thể ngay thẳng. Bên ngoài không có ký sinh trùng và vật khác. Ðàn tôm bố mẹ phải là tôm SPF nhập từ OI Hoa Kỳ. Công nghệ sản xuất giống phải áp dụng công nghệ OI.

  1. Ương tôm giống

Ấu trùng tôm P.vannamei rất bé, để đảm bảo tỷ lệ sống cao và giảm bớt việc chiếm dụng diện tích ao nuôi thường người ta tiến hành giai đoạn ương tôm giống từ cỡ P15 có chiều dài từ 1 cm lên 3cm mới đưa vào ao nuôi.

Mật độ ương là 100 – 200 ấu trùng/m2 hoặc cao hơn tuỳ theo ao có hay không có điều kiện sục khí.

Ao ương thường là 100 – 200 ấu trùng/m2 hoặc cao hơn tuỳ theo ao có hay không có điều kiện sục khí.

Ao ương thường có diện tích 1000 – 5000 m2. Trước khi ương ao phải dọn đáy thật kỹ, sát trùng đáy và nước ao. Bón phân gây màu. Nước sâu khoảng 0,8 – 1,0m. Khi độ trong trên dưới 30 cm thì thả tôm vào ương. Ðộ mặn, nhiệt độ, của ao ương phải giống như độ mặn, nhiệt độ ao ương tôm bột P15.

Ao nương luôn có hàm lượng ôxy hoà tan không dưới 5 mg/l. Màu nước là màu xanh hoặc xanh lá chuối non (xanh vàng).

Thức ăn cho tôm giai đoạn này là thịt nhuyễn thể hoặc thịt cá tươi nghiền nhỏ trộn với thức ăn nhâ tạo. Tôm đạt cỡ 3 cm thì thu hoạch chuyển sang ao nuôi tôm thịt.

  1. Thả giống

Số lượng giống cho mỗi ao phải thả đủ một lần, tốt nhất là tôm cùng cho đẻ một đợt của những con tôm mới cho đẻ lần đầu hoặc lần thứ hai. Không dùng tôm giống của những con tôm đã cho đẻ từ lần thứ ba trở lên, chỉ thả tôm vào ao khi ao nuôi có đủ các điều kiện sau đây:

  • Ao đã gây màu nước tốt đủ thức ăn tự nhiên cho tôm;
  • Chất lượng nước ao nuôi phải đảm bảo tiêu chuẩn TCVN 5943 – 1995

Thời gian thả giống là sáng sớm hoặc chiều mát lúc thời tiết tốt, không thả giống vào giữa trưa hoặc lúc trời mưa to gió lớn, khí hậu thay đổi đột ngột ảnh hưởng tới tỷ lệ sống của tôm.

Theo Báo Khuyến Nông (21/05/2024)

ky-thuat-nuoi-ca-chach-lau-o-cac-mo-hinh-khac-nhau-01

Kỹ thuật nuôi cá chạch lấu

KỸ THUẬT NUÔI CÁ CHẠCH LẤU

Xây bể xi măng nuôi cá Chạch

Cá Chạch Lấu, thích hợp môi trường nhiệt độ từ 25 -27 độ C. Do vậy bể nuôi xi măng cần thiết kế mái che nắng che mưa, có thể thả thêm bèo nếu bể rộng làm nơi cư ngụ cho cá Chạch.

Bể xi măng cần được xử lý trước khi thả cá bằng muối hoặc thuốc tím, rửa thật sạch. Có thể ngâm phèn trong vòng 1 tuần để khử các vụn xi măng, mùi xi măng còn động lại. Rửa sạch với nước, ngâm tiếp nước sạch khoảng ngày vài trước khi xả nước chính thức vào nuôi cá.

Đối với cá Chạch cần xử lý nước thường xuyên nên thiết kế ống cấp nước, xã nước ở dưới đấy bể một cách thuận tiện nhất. Nước ao nuôi phải gây màu bằng phân xanh từ 3 – 4 ngày, đến khi có màu nõn chuối thì đạt yêu cầu. Như vậy, khi thả cá xuống từ 4 – 7 ngày không cần cho ăn.

Chọn cá Chạch giống

Khâu chọn giống sẽ quyết định đến năng suất thu hoạch của từng hộ kinh doanh. Đối với cá Chạch tốt nhất bà con cần quan tâm nên chọn giống to khỏe đạt chất lượng không dị hình, dị tật, bơi lội nhanh nhẹn, kích cỡ đồng đều, không mang mầm bệnh. Thông thường từ 2 -3g/con là phù hợp.

Mật độ thả từ 50 – 100 con/m2. Không thả quá dày sẽ khiến môi trường sống của cá chạch bị chật trội, chậm lớn.

Thức ăn cho cá Chạch

Cá Chạch là loại háu ăn, ăn tạp nhưng chúng không ăn nhiều. Do vậy, bà con cần cho ăn đúng định lượng của nó. Cụ thể dựa theo cách tính chiều dài của cá Chạch:

  • Cỡ dưới 5cm: thức ăn là ăn luân trùng, râu ngành, chân chèo và các động bật phù du khác.
  • Cỡ 5 – 8cm: ngoài động vật phù du, Chạch còn ăn giun  nhỏ
  • Cỡ 8 – 9cm: Chạch còn ăn tảo khuê, thân lá cây cỏ non và hại ngũ cốc
  • Cỡ trên 9cm: Chạch chuyễn sang ăn thực vật là chính.

Ngoài thức ăn tự nhiên, Chạch muốn lớn nhanh, đầy đủ chất dinh dưỡng, bà con cần bổ sung thức ăn chế biến cho chúng như khô đậu, cám gạo, nhộng tầm, thức ăn công nghiệp, cá tạp, ốc xoay.

Lượng thức ăn của Chạch bằng 5 – 8% trọng lượng cơ thể.

Mỗi ngày chia làm 3 – 4 lần cho ăn tùy vào cách chia thức ăn. Hợp nhất là ăn vào sáng va chiều tối khi thời tiết mát mẻ.

Để tăng sức đề kháng cho cá Chạch thì định kỳ 2 lần/tháng trộm thêm Vitamin C vào thức ăn tổng hợp cho cá.

Phòng và trị bệnh

Cá Chạch là loài ít bệnh nhưng khi gặp môi trường ô nhiễm thì cá vẫn mắc một số bệnh như nấm, đốm đỏ lở loét, bệnh đường ruột.  Cách phòng bệnh đơn giản nhất là chủ động bổ sung Vitamin C, men tiêu hóa vào thức ăn cho cá Chạch, định kỳ cho 2 lần/tháng mỗi lần 3 – 5 ngày liên tục. Ngoài ra phải thay nước liên tục cho cá, tùy vào số lượng cá nuôi nhiều hay ít mà thay nước theo định kỳ ngắn hay dài.

Khi cá bị bệnh thì xữ lý như sau:

  • Chạch bị nấm: cho Chạch tắ bằng các loại quá chất như nước muối bằng 3% hoặc KMnO4 liều lượng 20 gr/m3 nước, thời gian từ 10 – 15 phút.
  • Sử dụng kháng sinh: Doxycline 0.2 – 0.3 gr/kg thức ăn, Oxytetracline 2 – 4 gr/kg thức ăn, cho ăn 5 – 7 ngày liên tục.

Thu hoạch cá Chạch

Thời gian thu hoạch cá sau khi nuôi từ 9 – 12 tháng là cá đạt đến kích cỡ 100 – 150 con/kg và có thể thu tỉa dần. Dùng lưới có mắt lưới để thu hoạch cá Chạch to, lọc lại cá nhỏ. Hoặc tháo cạn nước để thu bắt cá. Trước khi đánh bắt 1 ngày thì không cho cá Chạch ăn, không dùng kháng sinh trước khi xuất bán 15 ngày.

Khi đánh bắt cá cần chú ý tránh cá Chạch bị xây xác vì làn da trơn của chúng rất dễ bị tổn thương. Cá mất nhớt, bị xây xát giá trị thương phẩm sẽ giảm xuống. Nuôi cá Chạch không tốn nhiều chi phí nên bà con hoàn toàn có thể mở rộng mô hình nuôi cá Chạch lấu ngon thịt.

Theo Báo Khuyến Nông (21/05/2024)

mo-hinh-nuoi-ca-loc-thuong-pham

Mô hình nuôi cá lóc thương phẩm

MÔ HÌNH NUÔI CÁ LÓC THƯƠNG PHẨM

Mô hình nuôi trong giai đoạn đặt ở ao đất

  1. Mùa vụ

Mùa vụ nuôi phụ thuộc vào việc sản xuất con giống. Nguồn cá giống phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, thông thường nguồn cá giống xuất hiện tập trung vào tháng 7 – 8. Do vậy, mùa vụ nuôi cũng tập trung vào những tháng này.

  1. Kích cỡ giống và mật độ nuôi

Cần chọn lựa giống có kích cỡ đồng đều, khỏe mạnh, không bị sây sát, không bị mất nhớt. Cá giống cần đạt kích cỡ 20 – 30g/con. Mật độ thả 70 – 90 con/m2.

  1. Thức ăn cho cá

Cá lóc là loài ăn động vật, cá có thể sử dụng nhiều loại thức ăn như: cá, tép, ếch nhái….Trong quá trình nuôi có thể tập cho cá quen dần với thức ăn tự chế với nguồn nguyên liệu là cá tạp, tấm, cám, bắp….hoặc thức ăn công nghiệp. Khẩu phần ăn cho cá có thể định lượng theo bảng sau:

  1. Cho cá ăn

Trong giai đoạn đầu thả giống, do kích thước cá còn nhỏ, thức ăn cần được xay nhuyễn, khi cá lớn thức ăn không cần xay nhuyễn và được cung cấp cho cá trong giai hoặc ao nuôi qua sàn ăn.

  1. Chăm sóc và quản lý

Việc chăm sóc và quản lý được tiến hành thường xuyên như kiểm tra hệ thống dây- lưới, theo dõi hoạt động của cá, vệ sinh giai….

Mô hình nuôi trong ao đất

  1. Chuẩn bị ao

Diện tích ao nuôi trung bình từ 100 – 1.000 m2. Ao nuôi được cải tạo và vệ sinh trước khi nuôi. Dùng lưới hoặc đăng tre chắn xung quanh để phòng tránh cá nhảy ra ngoài. Mật độ thả cá 30 – 50 con/m2.

  1. Cho cá ăn và quản lý

Thức ăn dùng cho cá nuôi trong ao đất tương tự như thức ăn cho cá nuôi trong giai. Thức ăn được đặt trong sàn cho cá ăn.

Mô hình nuôi trên bể lót bạt

  1. Chuẩn bị bể

Tùy theo diện tích của mỗi hộ gia đình mà xây dựng bể có quy mô khác nhau:

  • Vị trí đặt bể nên bố trí gần sông để thuận tiện cho việc thay nước, nên xây dựng bể lót bạt để chi phí đầu tư thấp và thuận tiện cho việc thay đổi thiết kế sau này nhất là chuyển đổi đối tượng nuôi khác.
  • Bể thường được xây dựng theo hình chữ nhật, chiều cao bể khoảng 1,2m. Dùng tràm để làm các trụ, rào đăng tre xung quanh, trải bạt nhựa màu tối để tạo điều kiện sống gần giống như tự nhiên và sử dụng lưới cước rào trên mặt bể để tránh cá nhảy ra ngoài. Đáy bể nên thiết kế sao cho nghiêng về một phía để dễ dàng tháo nước. Đặt cống thoát nước sát đáy bể và đầu cống có lưới chắn để không cho cá ra ngoài.
  • Mực nước trung bình trong bể là từ 0,8 – 1m.
  • Cần có hệ thống máy bơm nước để cung cấp nước khi cần thay nước.
  1. Cho ăn và quản lý

Thức ăn dùng cho cá nuôi trong ao đất giống như thức ăn cho cá nuôi trong giai và ao đất. Thức ăn được đặt trong sàn ho cá ăn.

  1. Xử lý môi trường nước trong bể nuôi

Cá lóc nuôi trên bể môi trường nước rất dễ nhiễm bẩn cần được thay nước thường xuyên. Lúc cá còn nhỏ số lần thay nước sẽ ít hơn so với cá lớn. Định kỳ xử lý vôi cho nguồn nước trong bể nuôi từ 7 – 10 ngày/lần với 2 – 3kg vôi/100m3. Trong quá trình nuôi nếu có hiện tượng nhiễm nấm, ký sinh trùng nên dùng các hóa chất diệt ký sinh trùng như Fresh water (Cty Vemedim, Cần Thơ)….liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất để xử lý rất hiệu quả.

Mô hình nuôi ghép

  1. Nuôi ghép với cá rô phi

Dùng cá Rô phi làm thức ăn cho cá lóc. Mật độ thả 0,5 – 1 con/m2. Qua 4 tháng nuôi cá giống cỡ 80 – 100g/con đạt trung bình 350g/con. Tính trung bình cứ 4kg cá Rô phi con được 1 kg cá lóc thịt.

  1. Nuôi ghép với cá nuôi khác

Có thể nuôi ghép cá lóc với cá mè, trôi, chép,…..Thức ăn và liều lượng cho ăn tuỳ thuộc vào mật độ nuôi cũng như tỉ lệ ghép với loài cá khác sao cho đảm bảo cá lóc tăng trưởng tốt và không ảnh hưởng đến sinh trưởng của cá khác.

Phòng và trị bệnh cho cá

  • Cá ương giai đoạn dưới 25 ngày tuổi: Bệnh thường gặp là bệnh do ký sinh trùng Để phòng bệnh cần định kỳ sát trùng ao nuôi 15 ngày/lần. Sử dụng vôi bột với liều lượng 3 – 4 kg/100 m3, vôi được hòa tan, lóng trong và lấy nước tạt khắp ao hoặc sử dụng Fresh water (Cty Vemedim Cần Thơ).
  • Cá ương giai đoạn trên 25 ngày tuổi: Bệnh thường gặp là bệnh viêm ruột do giai đoạn này cá chuyển thức ăn. Rửa thức ăn bằng muối hột, trộn thuốc Sunfadimezin: 2g + Vitamine C: 1g/1kg thức ăn cho cá ăn liên tục 3 ngày mỗi tháng. Định kỳ tạt nước vôi khắp ao.
  • Cá giai đoạn nuôi thịt: Bệnh thường gặp là bệnh viêm ruột, ghẻ lở, rận cá. Sử dụng Sunfadimezin: 20g + Oxytetra 5g/100kg cá. Dùng liên tục trong 6 ngày. Định kỳ tạt nước vôi khắp ao.

Thu hoạch

Sau 5 – 6 tháng nuôi cá đạt trọng lượng trung bình 0,8Kg – 1kg/con. Trước khi thu hoạch 1 – 2 ngày không nên cho cá ăn nhằm hạn chế cá chết trong quá trình vận chuyển. Khi thu hoạch có thể dùng vợt để hạn chế sây sát.

Tháo nước ra chỉ còn 40 – 50 cm, lấy lưới kéo đánh bắt dần. Sau đó tát cạn để thu hoạch toàn bộ.

Theo Báo Khuyến Nông (21/05/2024)

ky-thuat-nuoi-ca-dieu-dong-hieu-qua

Các bệnh thường gặp ở cá điêu hồng

CÁC BỆNH THƯỜNG GẶP Ở CÁ ĐIÊU HỒNG

Bệnh do ký sinh trùng

Nguyên nhân: Các bệnh do ngoại ký sinh trùng có tác động mạnh đến cá con trong quá trình ương. Thực tế cho thấy nhiều cơ sở ương giống có tỷ lệ hao hụt từ 50 – 70% chủ yếu là do cá con bị bệnh đốm trắng (trùng quả dưa tấn công), bệnh do trùng mặt trời và tà quản trùng, bệnh do sán lá đơn chủ, bệnh do giáp xác ký sinh (Argulus và Ergasilus).

Cách phòng trị: Ao ương và nuôi cá phải có sục khí. Khi phát hiện cá bị bệnh cần bón: Formol nồng độ 25 – 30 ml/m3, trị thời gian dài và nồng độ từ 100 – 150 ml/m3 nếu trị trong 15 – 30 phút; CuSO4 (phèn xanh) nồng độ 2 – 5 g/m3 trị thời gian dài và từ 20 – 50 g/m3 trong thời gian 15 – 30 phút, cách này trị một lần; muối ăn để phòng trị bệnh cho cá, nồng độ 1% trị thời gian dài và 1 – 2% trong 10 – 15 phút.

Bệnh xuất huyết

Nguyên nhân: Bệnh do vi khuẩn Aemomas hydrophia hoặc Edwardsiella tarda gây ra. Cá có dấu hiệu toàn thân xuất huyết, hậu môn sưng lồi, bụng trương to, có dịch vàng hoặc hồng, đầu và mắt cá sưng và lồi ra. Bệnh thường xuất hiện với cá rô phi đỏ nuôi bè.

Cách phòng trị: Biện pháp đề phòng là tránh thả cá nuôi và hạn chế thay nước lúc giao mùa. Nên định kỳ bón và khử trùng nơi cho cá ăn. Cách trị là bón vôi và khử trùng nước, có thể trộn thuốc kháng sinh vào thức ăn cá, tỷ lệ tuỳ theo tình trạng bệnh.

Bệnh trắng mang, thối mang

Nguyên nhân: Do vi khuẩn Myxococcus piscicolas gây ra. Vi khuẩn này phát triển mạnh ở môi trường có pH = 6,5 – 7,5, nhiệt độ nước 25 – 35oC. Cá bệnh có dấu hiệu bơi tách đàn, bơi lờ đờ trên mặt nước, khả năng bắt mồi giảm đến ngừng ăn Các tơ mang cá bị thối nát, ăn mòn, rách nát, xuất huyết, thối rữa và có lớp bùn dính rất nhiều. Bề mặt xương nắp mang bị xuất huyết, ăn mòn và có hình dạng không bình thường

Cách phòng trị: 

Cần thực hiện tốt khâu chuẩn bị ao nuôi, vét sạch bùn đáy ao Trong quá trình nuôi phải quản lý tốt môi trường để hạn chế ô nhiễm hữu cơ thông qua việc quản lý lượng thức ăn Định kỳ thay nước ao để giữ môi trường trong sạch.

Thường xuyên vệ sinh thành lồng bè để đảm bảo lưu tốc dòng nước chảy cho phù hợp

Theo Báo Khuyến Nông (21/05/2024)

ky-thuat-nuoi-ca-dieu-dong-hieu-qua-cao

Kỹ thuật nuôi cá điêu hồng hiệu quả cao

KỸ THUẬT NUÔI CÁ ĐIÊU HỒNG HIỆU QUẢ CAO

Chuẩn bị ao nuôi

  • Ao tháo cạn nước, vét bớt bùn đáy, lấp hang hốc, dọn sạch cây cỏ, trang phẳng đáy
  • Dùng 10-15 kg vôi bột/100m2 để khử chua và diệt cá tạp, phơi nắng 2 – 3 ngày
  • Lấy nước vào ao qua lưới lọc rác
  • Gây màu nước bằng phân chuồng ủ hoai: 80-100 kg/100 m2 hoặc phân đạm, lân đến 5-6 ngày tạo lượng sinh vật phù du trong ao phát triển làm thức ăn cho cá, sau đó thả cá vào nuôi.

Thả giống

  • Phải chọn cá khoẻ mạnh, vây vẩy hoàn chỉnh, không bị xây xát, không bị bệnh, cá sáng con, cỡ đồng đều, nhanh nhẹn phản ứng tốt với các tác động xung quanh.
  • Mật độ thả: 3 con/m2
  • Thời vụ thả: cuối tháng 5-6

Thức ăn

  • Cá ăn các loại thức ăn tinh: bột ngô, khoai, sắn, gạo, cám
  • Các loại thức ăn xanh như rau muống, bèo trứng, cá, bèo tấm, rau thái nhỏ
  • Các loại động vật như tôm cá nhỏ, giun ốc đã xay nhỏ và các loại phế phẩm (bã bia, bã rượu, lòng trâu bò….)
  • Ngoài thức có điều kiện cho ăn thêm thức ăn công nghiệp.

Cách cho ăn

Thức ăn công nghiệp: Dùng loại thức ăn có độ đạm 25- 30%. Lượng thứ ăn: 4-5% trọng lượng cá. Ngày  lần (sáng, chiều)

Thức ăn tự chế biến: 

  • Tháng đầu: 30% cám gạo + 70% cá, xay nhuyễn nấu chín cho ăn tập trung vào sàng ăn để dễ kiểm soát hàm lượng thức ăn. Cho ăn ngày 02 lần. Liều lượng 7% trọng lượng thân
  • Tháng thứ 02: 40% cám gạo + 60% cá xay nhuyễn nấu chín, rải quanh bờ ao. Với 6% trọng lượng thân
  • Tháng thứ 03 trở lên: 50% cám gạo + 50% cá, xay nhuyễn, nấu chín vắt cục rải thức ăn quanh ao. Lượng thức ăn 5 – 4 – 3 % trọng lượng thân.
  • Ngoài ra bổ sung thêm rau, cỏ, bèo các loại .. cá sẽ lớn nhanh và giảm hệ số thức ăn tinh.

Chăm sóc và thu hoạch

  • Cá rô phi là loại phàm ăn, để cá chóng lớn chăm sóc cho ăn phải đều đặn, đủ số lượng và chất lượng
  • Phải thường xuyên kiểm tra bờ cống chống rò rỉ và mưa tràn bờ cá đi mất
  • Thay nước: khi ao nước quá bẩn, mỗi lần thay từ 1/3 – 2/3 lượng nước trong ao
  • Thường xuyên theo dõi các yếu tố môi trường của ao nuôi cá: nhiệt độ, ôxy, pH, độ trong…để có kế hoạch xử lý môi trường
  • Theo dõi sức khoẻ, hoạt động của cá vào các buổi sáng sớm.
  • Thu hoạch: Sau 5-6 tháng nuôi cá đạt cỡ 0,4 – 0,5 kg/con tiến hành thu hoạch. Có thể thu hoạch toàn bộ hoặc đánh tỉa cá lớn nuôi tiếp các nhỏ.
  • Bảo quản cá sau khi thu hoạch: bắt cá thả vào giai hoặc bể để giữ sống, có thể dùng máy sục khí thường xuyên cho cá sống và thải phân rồi mới đóng túi chuyển đi

Theo Báo Khuyến Nông (21/05/2024)

ky-thuat-nuoi-ca-tra-dung-chuan-an-toan-sinh-hoc-ca-tra-2-fwk300-1

Một số bệnh thường gặp ở cá tra

MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở CÁ TRA

Bệnh ký sinh trùng

  1. Bệnh trùng bánh xe
  • Do trùng Trichodina spp ký sinh trên thân hoặc mang.
  • Trên thân cá có lớp màu hơi trắng đục, da cá sậm lại, mang cá nhợt nhạt, cá giảm ăn và nổi đầu từng đàn trên mặt nước bơi đảo loạn lòng vòng, chìm xuống đáy rồi chết.
  • Phòng và trị: Dùng muối 2 – 3% (20 – 30g muối/lít nước) hoăc dùng Sulphat đồng (CuSO4) với liều 0,5 – 0,7 ppm/ m3 (0,5 – 0,7 g/m3) tạt đều khắp ao.
  1. Bệnh trùng quả dưa
  • Do trùng Ichthyophthyrius multicifillis ký sinh trên da, mang và vây.
  • Da, mang và vây cá có nhiều nhớt màu sắc nhợt nhạt, cá bệnh nặng có thể thấy trùng bám thành các hạt lấm tấm nhỏ màu trắng đục. Cá bệnh nổi đầu từng đàn trên mặt nước, bơi lờ đờ yếu ớt, thường tập trung chỗ nước mới.
  • Phòng và trị bệnh: Dùng Formol với liều lượng 25 – 30ml/m3, sau 3 ngày thay 75% nước và trị bằng formol thêm lần nữa.
  1. Bệnh do sán lá đơn chủ
  • Do 2 giống Dactylogyrus (sán lá 16 móc) và Gylodactylus (sán lá 18 móc) ký sinh trên mang cá. – Cá thường nổi đầu trên mặt nước, tập trung chỗ nước mới. Khi bị trùng bám nhiều, mang và da có nhiều nhớt, mang có màu màu hồng nhạt, màu trắng hoặc thối rữa.
  • Phòng và trị bệnh: Có thể dùng Formol với liều lượng 25 – 30ml/m3. Ngày hôm sau thay 50% lượng nước và xử lý thêm lần nữa nếu cá chưa hết hẳn, hoặc có thể dùng muối ăn với nồng độ 3 – 4% (30 – 40g muối/lít nước) để xử lý.
  1. Bệnh nội ký sinh
  • Do giun tròn (Nemathelminthes), giun đầu móc (Acanthocepphala) ký sinh trong ruột cá.
  • Giun ký sinh trên niêm mạc ruột hút chất dinh dưỡng làm cho cá gầy yếu, sinh trưởng kém, gây viêm thủng ruột, tạo điều kiện cho vi khuẩn và nấm tấn công.
  • Phòng và trị bệnh: Trước khi nuôi cá cải tạo ao để diệt trứng giun. Có thể dùng các sản phẩm trị nội ký sinh trùng được phép lưu hành trên thị trường.

Bệnh vi khuẩn

  1. Bệnh xuất huyết (bệnh đốm đỏ)
  • Do vi khuẩn Aeromonas hydrophyla gây ra.
  • Xuất hiện những đốm đỏ quanh miệng, nắp mang và bụng, hậu môn sưng lồi, bụng trương to và có chứa dịch màu vàng hoặc màu đỏ bầm.
  • Phòng trị bệnh: Tránh làm xây xát cá, nuôi mật độ nuôi quá dày. Dùng thuốc tím (KMnO4) liều dùng là 3 – 5g/m3 nước đối với cá nuôi ao và 10g/m3 nước đối với cá nuôi bè. Xử lý lập lại sau 3 ngày, định kỳ một tuần, hai tuần hoặc một lần/tháng tuỳ thuộc vào tình trạng sức khỏe cá.
  • Dùng thuốc trộn vào thức ăn:

+ Oxytetracyline: 55 – 77 mg/kg thể trọng cá nuôi, cho ăn 7 – 10 ngày, nên hạn chế sử dụng.
+ Kanamycin: 50 mg/kg cá nuôi, cho ăn 7 ngày.

+ Nhóm Sulfamid: 150 – 200mg/kg thể trọng đàn cá, cho ăn 10 – 20 ngày.

  1. Bệnh phù mắt
  • Do vi khuẩn Aeromonas sobria gây ra.
  • Cá nhiễm bệnh sẽ bơi lờ đờ trên mặt nước, mắt xuất huyết và xưng nặng.
  • Phòng và trị bệnh: Áp dụng biện pháp phòng bệnh chung.
  • Cách trị: Thay 50% lượng nước và bón vôi 4 – 6kg/100m3 nước. Có thể dùng thuốc giống như tri bệnh xuất huyết.
  1. Bệnh mủ gan
  • Do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây ra.
  • Cá gầy mắt hơi lồi, cá bệnh nặng bỏ ăn bơi lờ đờ trên mặt nước và tỷ lệ chết cao, dấu hiệu bên ngoài không rõ ràng, xuất hiện nhiều đốm trắng đục trên gan, thận và tỳ tạng.
  • Phòng và trị bệnh: Áp dụng biện pháp phòng bệnh chung.
  • Cách trị: Thay 50% lượng nước và bón vôi 4 – 6kg/100m3 nước. Dùng 1 trong 3 loại kháng sinh sau florphenicol, doxycyclin. Liều dùng 0,5 – 1g/1kg thức ăn. Có thể bổ sung thêm Vitamin C để tăng cường sức đề kháng cho cá.
  1. Bệnh trắng da
  • Do vi khuẩn Flexibacter sp gây ra.
  • Cá bị nhiễm bệnh thường bỏ ăn, gốc vây lưng xuất hiện vết đốm trắng sau đó lan dần đến cuống đuôi và toàn thân. Cá bị bệnh nặng thường bơi lờ đờ ngang mặt nước, rồi lộn đầu xuống và chết.
  • Phòng trị: Áp dụng biện pháp phòng bệnh chung.
  • Cách trị: Trộn Enrofloxacin, colistin 0,5 – 1g/kg thức ăn cho ăn liên tục 5 – 7 ngày. Hoăc dùng chlorin phun đều khắp ao với liều 1 g/m3.

Theo Báo Khuyến Nông (20/05/2024)

images

Kỹ thuật cho cá tra-basa đẻ nhân tạo

KỸ THUẬT CHO CÁ ĐẺ NHÂN TẠO

  1. Công trình phục vụ cho cá đẻ nhân tạo

1.1 Bể cá đẻ

Bể đẻ được thiết kế theo mẫu của Trung quốc có cải tiến (từ những thập niên 60 thế kỷ trước), bể xây bằng xi măng, hình trụ tròn đường kính từ 3 – 5m, chiều cao 2 – 3m. Nước cấp vào bể phun theo đường tiếp tuyến để tạo dòng nước chảy vòng tròn liên tục. Sử dụng bể này để để chứa cá bó mẹ sau khi tiêm kích dục tố.

Khi cá rụng trứng phải bắt cá bố mẹ ra và vuốt trứng, vuốt tinh dịch để tiến hành thụ tinh nhân tạo. Ngoài bể đẻ hình tròn, có thể dùng bể xi măng hình vuông, chữ nhật để chứa cá bố mẹ. Nhiều nơi đã làm bể tròn bằng composite, bằng nhựa hoặc kim loại như nhôm, inox với kích thước nhỏ (1 – 5m3) và phù hợp với cỡ cá bố mẹ cho đẻ.

1.2 Bể ấp trứng cá

Những dạng bể xây bằng xi măng, có bể vòng hình tròn trong hệ thống bể đẻ kiểu Trung quốc, phù hợp cho ấp các loại trứng trôi nổi (mè, trôi, trắm.). Bể được sử dụng ấp trứng cá tra, cá ba sa sau khi đã khử tính dính của trứng hoặc trứng không khử dính cho bám vào các loại giá thể (vật bám) như rễ bèo lục bình (bèo tây), xơ dừa, xơ lynon, lưới nilon. Bể xi măng hình vuông hoặc chữ nhật cũng chủ yếu dùng cho ấp trứng không khử dính, có nước chảy nhẹ và hỗ trợ thêm sục khí trong quá trình ấp. Ngoài bể xây xi măng, còn có một số loại dụng cụ khác dùng để ấp trứng cá tra và ba sa như bình vây (Weis) thủy tinh hoặc nhựa trong suốt có thể tích 5 – 20 lít, hoặc bể composite, bể nhựa tròn thể tích 600 – 1.000 lít. Nước ấp trứng được cấp liên tục và có thêm sục khí.

  1. Mùa vụ sinh sản

Trong tự nhiên cá thành thục và sinh sản vào cuối tháng 4 và đầu tháng 5 âm lịch. Ðàn cá đẻ tự nhiên đẻ không đồng loạt nên thời gian xuất hiện cá bột trên sông cũng kéo dài 3-4 đợt trong vòng 2 tháng. Chưa phát hiện được cá tra tái thành thục trong tự nhiên. Ðối với cá tra nuôi vỗ cho sinh sản nhân tạo ở các tỉnh miền Nam (từ Ðà nẵng trở vào) mùa vụ thành thục của cá bố mẹ và bắt đầu cho đẻ từ tháng 2 – 3 trở đi, mùa vụ sinh sản có thể kéo dài tới tháng 10. Sau lần sinh sản thứ nhất, cá có thể tái thành thục trở lại và đẻ tiếp lần thứ hai. Cá tra bố mẹ tái thành thục 1 – 2 lần trong năm, thời gian để cá tái thành thục từ 1 – 2 tháng. Mùa vụ thành thục và bắt đầu cho đẻ của cá ba sa trong tự nhiên cũng kéo dài 3 – 4 tháng, do đó sự xuất hiện cá giống cá ba sa trên sông cũng kéo dài. Có 2 đợt xuất hiện cá giống trên sông, vụ đầu tiên từ tháng 6 – 8 và vụ thứ hai tháng 10 – 12 hàng năm. Từ dẫn liệu này có thể cho rằng cá ba sa tái thành thục trong tự nhiên. Mùa thành thục và cho đẻ của cá bố mẹ nuôi vỗ sinh sản nhân tạo trong ao từ cuối tháng 2 và kéo dài đến tháng 7. Cá ba sa cũng tái thành thục trong ao sau lần đẻ thứ nhất, thời gian tái thành thục từ 2 – 3 tháng. Nhiệt độ nước thích hợp nhất cho cá tra và ba sa trong mùa vụ đẻ từ 28-30oC. Nếu nhiệt dộ thấp hơn 24 độ C thì trứng cá khó nở, do phôi cá không phát triển được. Nếu nhiệt độ cao quá 32oC thì trứng bị ung.

  1. Chọn cá bố mẹ cho đẻ

Khi kiểm tra cá bố mẹ để tuyển cho đẻ, chọn những cá khỏe mạnh, bơi nhanh nhẹn, chú ý chọn những con cá đã được đánh dấu thành thục tốt ở lần kiểm tra trước. Quan sát bên ngoài cá cái thấy bụng to, sờ thấy mềm, lỗ sinh dục sưng hồng. Dùng que thăm trứng lấy ra một ít trứng để trực tiếp đánh giá mức thành thục. Với cá tra, các hạt trứng đều, rời, căng tròn, màu vàng nhạt hoặc trắng nhạt. Quan sát trên kính lúp thấy mạch máu còn ít hoặc đã bị đứt đoạn. Trên 70% số trứng đã phân cực và có đường kính hạt trứng từ 0,9mm trở lên. Cá cái ba sa cũng có các hạt trứng đều, rời, ít mạch máu, nhân đã phân cực. Số trứng có đường kính hạt trứng từ 1,4mm trở lên chiếm 70%. Cá đực có lỗ niệu sinh dục hơi lồi, khi vuốt nhẹ hai bên lườn bụng đến gần hậu môn thì thấy tinh dịch (sẹ) trắng như sữa chảy ra. Nên chọn những cá đực có sẹ đặc.

  1. Sử dụng chất kích thích sinh sản

Kích dục tố và phương pháp tiêm cho cá Cá tra và ba sa nuôi vỗ trong ao và trong bè tuy đạt tới thành thục nhưng do không đủ điều kiện về các yếu tố sinh thái nên không thể rụng trứng và cũng không tự đẻ được. Vì vậy phải tiêm các chất kích thích sinh sản cho cả cá đực và cá cái nhằm thúc đẩy quá trình rụng trứng của cá, sau đó dùng phương pháp vuốt trứng cá cái và trộn với tinh dịch cá đực để tiến hành thụ tinh nhân tạo. Biện pháp dùng chất kích thích sinh sản hoặc kích dục tố để kích thích cá đẻ được áp dụng cho hầu hết các loài cá nuôi hiện nay. Các chất kích thích sinh sản-kích dục tố sử dụng cho cá tra và ba sa gồm các loại chính như sau: – HCG, viết tắt của chất Human Chorionic Gonadotropin, đây là một hormon sinh dục có nguồn gốc từ động vật, HCG có trong nước tiểu của phụ nữ có thai ở tháng thứ 3, được chiết xuất và sử dụng rất tốt cho cá, động vật và cả cho người. Thuốc được đóng gói trong các lọ thủy tinh với lượng chứa 5.000 UI hoặc 10.000 UI (UI viết tắt của chữ đơn vị quốc tế – Unit International). Khi dùng chỉ cần pha với nước cất hoặc nước muối sinh lý. HCG có tác dụng chuyển hoá buồng trứng và gây rụng trứng.

  • LH-RHa, viết tắt của Lutenizing Hormon-Releasing Hormon analog, là hormon tổng hợp và được sử dụng rộng rãi cho cá và động vật nói chung. Thuốc sản xuất ở nhiều nước, của Trung quốc sản xuất được đóng gói trong lọ thủy tinh với lượng chứa 200, 500, 1.000 g (micro gam). LH-RHa có tác dụng chuyển hoá buồng trứng đồng thời gián tiếp gây rụng trứng. Khi sử dụng nhất thiết phải dùng kèm thêm hoạt chất gọi là Domperidon (viên DOM)
  • Não thùy thể (tuyến yên) của các loài cá (Mè trắng, chép , trôi …). Các loại kích dục tố này có thể sử dụng đơn hoặc kết hợp nhiều loại để tăng hiệu ứng. Nếu dùng kết hợp , chỉ nên dùng ở liều quyết định. Tuy nhiên nếu dùng kết hợp thì phải chọn 1 loại làm chính. Phương pháp tiêm Sau khi chọn xong những cá cho đẻ thì tiến hành tiêm thuốc kích thích sinh sản. Ðối với cá tra và ba sa dùng phương pháp tiêm nhiều lần, với cá cái thì 2-4 lần sơ bộ và 1 lần quyết định. Với cá đực thì tiêm 1 lần cùng lúc với liều quyết định của cá cái. Thời gian giữa các lần sơ bộ là 12 giờ (cá tra) hoặc 24 giờ (cá ba sa). Giữa liều sơ bộ cuối cùng và liều quyết định cách nhau 8 – 12 giờ.
  • LH-RHa, viết tắt của Lutenizing Hormon-Releasing Hormon analog, là hormon tổng hợp và được sử dụng rộng rãi cho cá và động vật nói chung. Thuốc sản xuất ở nhiều nước, của Trung quốc sản xuất được đóng gói trong lọ thủy tinh với lượng chứa 200, 500, 1.000 g (micro gam). LH-RHa có tác dụng chuyển hoá buồng trứng đồng thời gián tiếp gây rụng trứng. Khi sử dụng nhất thiết phải dùng kèm thêm hoạt chất gọi là Domperidon (viên DOM)

Các chất sử dụng trong liều sơ bộ là kích dục tố não thùy thể và HCG, không dùng LH-RHa cho liều sơ bộ, vì có thể gây ra sự rụng trứng trong khi đa số trứng trong buồng trứng chưa chuyển hết sang giai đọan chín, dẫn đến tỷ lệ thụ tinh kém và kết quả sinh sản sẽ thấp.

Tùy theo chất lượng trứng và chủng loại kích dục tố ta áp dụng các liều tiêm thích hợp:

  • HCG: với cá cái, liều tiêm sơ bộ 300 – 500 UI/kg; liều quyết định 2.500 – 3.000 UI /kg . Với cá đực 300UI/kg

 

  • Não thùy thể: với cá cái, liều sơ bộ 0,5mg/kg; liều quyết định 5 – 7mg/kg. Với cá đực 0,5mg/kg
  • LH-RHa: chỉ dùng cho liều quyết định, với cá cái 100-150g/kg. Không dùng cho cá đực và liều sơ bộ của cá cái.

 

  • Nếu phối hợp giữa HCG và não thùy, liều tiêm sơ bộ 300 – 500UI hoặc 0,5 mg não thùy/kg; liều quyết định 1.000 UI + 2mg não thùy/kg . Với cá đực liều lượng bằng 1/3 – 1/2 của cá cái.

Thời gian hiệu ứng thuốc : sau 8 – 12 giờ liều tiêm quyết định thì trứng rụng.

Vị trí tiêm : tiêm ở gốc vây ngực, ở cơ lưng hoặc ở xoang bụng. Ðối với cá tra là cá không có vẩy nên tiêm ở cơ đơn giản hơn. Có thể tiêm trực tiếp kích dục tố HCG và não thùy thẳng vào xoang buồng trứng. Ở các lần tiêm khác nhau nên tiêm ở vị trí khác nhau để tránh làm cá bị thương. Khi tiêm, đặt mũi kim đúng vào vị trí đã định, nghiêng mũi kim một góc 450 so với thân cá, bơm thuốc nhanh nhưng không vội vàng và rút ra từ từ để tránh thuốc bị trào ra ngoài.

  1. Vuốt trứng và thụ tinh

Ðối với cá tra và ba sa khi sinh sản nhân tạo phải dùng phương pháp vuốt trứng và thụ tinh khô. Trước khi tiến hành vuốt trứng, đưa cá vào băng ca và nhúng cá vào dung dịch thuốc gây mê Tricane (thường gọi là MS 222, tên hóa học là 3-amino benzoic acid ethyl ester methanesulfonate) nồng độ 40mg/lít trong 3 – 4 phút để cá bị mê và không còn dãy dụa trong khi vuốt trứng. Thao tác vuốt trứng phải nhẹ nhàng và khẩn trương tránh làm cho cá bị thương, để trứng chảy ra gọn vào trong chậu khô, vuốt từ phần trên xuống dưới cho hết trứng đã rụng. Nếu cá rụng trứng róc, có thể vuốt một lần là hết trứng. Ðôi khi phải vuốt 2 – 3 lần do trứng cá rụng cục bộ hoặc rụng không đồng lọat. Cá vuốt trứng xong phải lập tức ngâm vào nước sạch sau khỏang 3 – 4 phút thì tỉnh lại.

Ðể tính được lượng trứng cá đã đẻ được, dùng cách tính theo phương pháp trọng lượng như sau: cân toàn bộ trọng lượng trứng vuốt được, cân riêng 10 gam và đếm để tính số trứng của 1 gam, nhân với tổng trọng lượng trứng (tính bằng gam) thì biết tổng lượng trứng đã vuốt được. Nếu đem chia số lượng trứng vuốt được cho trọng lượng cá cái ta được con số gọi là sức sinh sản tương đối thực tế. Sức sinh sản tương đối thực tế của cá tra trong khỏang 90.000 – 130.000 trứng/kg cá cái. Trong thực tế, lượng trứng vuốt được của những cá thể cái rụng trứng róc, cũng chỉ chiếm từ 70 – 80% số trứng có trong buồng trứng.

Sau khi trứng đã vuốt xong, vuốt tinh dịch cá đực tưới trực tiếp lên trứng, dùng lông gà khô trộn đều trứng với tinh dịch khỏang 10 – 20 giây, sau đó cho nước sạch vào ngập trứng, tiếp tục dùng lông gà khuấy đều khỏang 20-30 giây để trứng họat hóa và thụ tinh. Tiếp theo đó đổ hết nước cũ đi và cho cho thêm nước mới, chú ý cho nước từ từ, vừa cho nước vừa khuấy, sau đó đổ dung dịch khử dính vào để khử tính dính của trứng.

  1. Khử tính dính của trứng

Trứng cá tra và ba sa thuộc loại trứng có tính dính. Sau khi trứng rụng và tiếp xúc với nước thì trở nên dính, có thể dễ dàng dính vào các vật trong nước cũng như dính với nhau. Tính dính của trứng gây nhiều khó khăn cho việc ấp trứng, nhất là trong sản xuất giống hàng lọat với số lượng lớn. Nếu ấp trứng không khử dính thì cho trứng dính lên giá thể và ấp trong bể ấp hoặc bể vòng. Trứng khử dính được ấp trong bể vòng hoặc bình vây.

Có thể dùng một số hoạt chất như tanin (có vị chát), men bromelin (tìm thấy trong nước ép qủa dứa), sữa bột v.v để khử tính dính của trứng cá tra và ba sa. Cách thông dụng nhất hiện nay là dùng tanin pha với nước thành nồng độ 0,1%. Sau khi cho chất khử dính vào trứng ta dùng lông gà khuấy đều trong khoảng 30 giây thì ta chắt nước đó ra và dùng nước sạch rửa trứng nhiều lần cho sạch, sau đó cho trứng vào bình vây hoặc bể vòng để ấp.

Ngoài tanin ta còn dùng nước ép quả dứa (Ananas sativa) gọi là chế phẩm bromelin thô, để khử dính. Với 25ml nước ép quả dứa pha thêm nước để thành 1 lít dung dịch khử dính, dung dịch này có chứa bromelin (một lọai enzyme phân giải protein). Ðổ dung dịch vào trứng đã thụ tinh, khuấy đều trong khỏang 1 phút, chắt bỏ dung dịch khử dính rồi cho nước lã vào rửa sạch trứng và đem ấp.

  1. Trứng không khử dính

Nếu trứng không khử dính thì ta cho trứng dính vào giá thể. Giá thể có thể là rễ bèo tây (lục bình), xơ dừa, xơ nylon, có thể làm bằng lưới nilon hoặc lưới vèo (sợi cước nhỏ) căng trên một cái khung vuông, mỗi cạnh dài 35-40cm. Trước khi sử dụng phải rửa sạch, tẩy trùng để diệt hết các vi khuẩn và nấm có hại cho trứng. Khi trứng đã thụ tinh xong, đặt giá thể ngập 3-5cm trong nước, dùng lông gà vẩy đều để trứng bám dính ngay lên bề mặt giá thể. Giá thể có dính trứng được đặt trong bể ấp có nước chảy liên tục và hỗ trợ thêm sục khí.

  1. Ấp trứng

Theo dõi quá trình ấp trứng:

  • Ấp trứng khử dính: ấp trong bình vây thủy tinh, nhựa trong suốt có thể tích 5 – 10 lít hoặc bình vây composite 600 – 1.000 lít, mật độ ấp trứng cá tra 20.000 – 30.000 trứng/lít, trứng cá ba sa 500 trứng/lít.
  • Ấp trứng không khử dính chủ yếu cho cá tra, ấp trong bể vòng hoặc bể composite có nước chảy liên tục, mật độ 4.000 – 5.000 trứng/lít. Ấp trong bể nước tĩnh thay đổi chậm, có sục khí, mật độ ấp 1.500 – 2.000 trứng/lít.

Thường xuyên chú ý điều chỉnh lưu lượng nước chảy vào bể vòng hoặc bình vây để trứng khử dính đảo đều, không bị lắng đọng ở đáy bình và trứng không khử dính sẽ luôn có đủ o-xy cho quá trình phát triển phôi. Nhiệt độ nước thích hợp cho phôi cá phát triển từ 28 – 30 độ C. Nhiệt độ càng cao thì phôi phát triển nhanh, nhưng nếu nhiệt độ quá cao thì phôi dễ bị dị hình, cá sau khi nở có sức sống yếu, khi nhiệt độ nước ấp trên 32 độ C thì phôi bị chết. Ngược lại nếu nhiệt độ quá thấp thì phôi phát triển chậm, thời gian ấp nở kéo dài hơn, nhiều phôi bị dị hình. Nếu nhiệt độ thấp hơn 24oC thì phôi ngừng phát triển và chết. Thời gian ấp để trứng nở thành cá bột ở nhiệt độ nước 28 – 30 độ C, của cá tra là 22 – 24 giờ, của cá ba sa là 30 – 33 giờ. Thời gian để cá nở hết tòan bộ có khi kéo dài hơn 1 – 2 giờ tùy theo nhiệt độ và khoảng cách giữa các lần thụ tinh của trứng đưa vào bể ấp. Khi cá bắt đầu nở, cần tăng lưu lượng nước qua bể ấp đẩy nhanh vỏ trứng và các chất thải ra ngòai. Theo dõi khi cá đã nở hết phải vớt giá thể đi.

Quản lý và thu cá bột:

  • Cá tra sau khi nở 30 – 32 giờ thì hết noãn hoàng, cá bắt đầu tìm kiếm thức ăn bên ngoài. Giai đọan cá bột thì cá tra thể hiện tính dữ (tính ăn thịt) và chúng tìm ăn các thức ăn là động vật sống có kích thước vừa với cỡ miệng của chúng. Trong bể ấp do không có thức ăn phù hợp nên xảy ra tình trạng cá tra bột ăn thịt lẫn nhau. Do đó khi cá nở được 20 – 25 giờ nên nhanh chóng đưa cá bột xuống ao ương nuôi hoặc xuất bán, không nên để quá thời gian này. Nếu để lâu trên bể, khi cá hết noãn hoàng thì chúng sẽ cắn đuôi ăn thịt lẫn nhau làm hao hụt nhiều cá bột.
  • Ðối với cá ba sa không có hiện tượng cá bột ăn thịt lẫn nhau. Sau khi hết noãn hoàng chúng cũng thích ăn các loài động vật có kích thước nhỏ. Chúng ta có thể cho cá ăn thức ăn là moina, daphnia hoặc tốt nhất là ấu trùng artemia.
  • Trong quá trình giữ cá mới nở trong bể ấp, cần điều chỉnh lưu lượng nước qua bể ấp thích hợp để giữ cho môi trường nước ấp được sạch và cá bột không bị đảo lộn nhiều. Ðảm bảo nhiệt độ nước lúc này trong khoảng thích hợp với cá bột, từ 28 – 30 độ C.
  • Khi thu cá bột, cho nước chảy nhẹ hơn, dùng vợt vải mềm (hoặc muoseline) để vớt cá. Thường dùng phương pháp thể tích để tính lượng cá bột. Dùng cốc đong hoặc ly uống nước đã biết chính xác thể tích, vớt cá bột và để cho róc nước, dùng cốc đong xúc cá bột và đếm số cốc. Sau đó lấy ra 5 – 10 ml cá bột để đếm và tính được số cá bột có trong 1ml. Nhân số này với tổng số thể tích cốc cá bột đã đong ta sẽ biết tổng số cá bột thu được.

Theo Báo Khuyến Nông (20/05/2024)

dac-diem-sinh-hoc-ca-tra-1

Kỹ thuật nuôi dưỡng cá tra bố mẹ

KỸ THUẬT NUÔI DƯỠNG CÁ TRA BỐ MẸ

  1. Ao nuôi vỗ cá bố mẹ

Ao nuôi cá nên chọn đào ở những nơi đất thịt và ít bị nhiễm phèn, nên gần nhà để tiện chăm sóc và bảo vệ. Ao nuôi vỗ cá tra có diện tích ít nhất 500 m2, ao nuôi vỗ cá ba sa bố mẹ nên có diện tích lớn hơn, phải từ 1000 m2 trở lên, độ sâu mực nước từ 1,5 – 3 m. Nhiệt độ nước ao thích hợp từ 26 – 30 độ C, pH thích hợp từ 7 – 8, hàm lượng oxy hòa tan từ 2mg/l trở lên.

Nhìn chung ao càng rộng, thóang càng tạo không gian họat động thỏai mái cho cá. Ao rộng thì giữ được sự ổn định của các yếu tố môi trường nhất là những khi thời tiết thay đổi. Ao rộng và thóang sẽ dễ dàng tạo được sự đối lưu giữa các tầng nước và các khu vực trong ao, điều hòa lượng khí oxy hòa tan trong nước giúp cho cá sinh trưởng và phát triển thuận lợi, thành thục dễ dàng và chất lượng sản phẩm sinh dục tốt. Một số địa phương, nhiều hộ có ao nuôi vỗ cá tra bố mẹ với diện tích nhỏ hơn 500 m2, vì vậy các yếu tố thủy lý hoá trong ao biến đổi nhiều, dẫn đến tỷ lệ thành thục cũng như sức sinh sản của cá bố mẹ đều kém, chất lượng trứng và tinh dịch không tốt, tỷ lệ sống của cá bột thấp. Ðộ sâu của ao cũng phải hợp lý để tạo thêm không gian họat động cho cá. Ao sâu thường giữ được nhiệt độ ổn định hơn ao cạn . Nhưng ao qúa sâu cũng không tốt, vì ao sâu có ảnh hưởng tới chất lượng công trình, đồng thời lớp nước dưới đáy ao ít được trao đổi, chất lắng đọng nhiều, nhiệt độ thấp, lượng oxy hòa tan thấp nên không thuận lợi cho cá.

Ao phải được xây dựng gần nguồn cấp nước, gần sông hoặc kênh mương để dễ dàng và chủ động lấy nước cho ao. Nguồn nước cấp cho ao phải chủ động, sạch, không bị ô nhiễm bởi nước thải sinh hoạt hay nước thải công nghiệp, hoá chất. Nước bị nhiễm chua phèn hoặc kiềm quá đều không tốt. Nước có chứa các kim lọai nặng thì dễ gây độc cho cá.

Ðáy ao không nên có nhiều bùn, vì dễ làm ô nhiễm và gây bệnh cho cá. Nếu đáy ao cát, độ thẩm thấu lớn và dễ bị sạt lở, khó giữ được nước ao. Bờ ao phải chắc chắn, không để lỗ mọi rò rỉ, chiều cao bờ phải cao hơn mực nước cao nhất trong năm để đề phòng ngập vào mùa nước lũ. Mái bờ cần dốc thoai thoải 30 – 40o để tránh sạt lở. Ao phải có cống cấp và cống thoát để giữ mực nước ổn định cũng như cấp và tháo nước dễ dàng khi cần thiết. Ðáy ao phải bằng phẳng và hơi nghiêng về phía cống thóat với độ dốc khỏang 0,3 – 0,4%. Nên giữ mặt ao thoáng đãng, không để tán cây lớn che khuất mặt ao.

Trước khi thả cá bố mẹ để nuôi vỗ, phải tiến hành các công việc chuẩn bị và cải tạo lại ao: tát hoặc tháo cạn nước ao, bắt hết cá tạp, cá dữ, vét bớt bùn đáy (chỉ nên để lớp bùn dày 20 – 25 cm). Dọn sạch cỏ, chặt bớt các tán cây che khuất quanh bờ ao, đắp lại những chỗ sạt lở và hang hốc cua, rắn, ếch, chuột.Ðể diệt cá tạp và nhất là cá dữ trong ao, ta thường dùng rễ cây thuốc cá (Derris), cứ 1kg rễ cây thuốc cá dùng cho 100m3 nước, ngâm nước 8 – 10 giờ rồi đập dập hoặc giã nát rồi vắt lấy nước và tạt đều khắp ao vào lúc trời nắng. Chất Rotenon có trong rễ cây thuốc cá sẽ diệt hết mọi cá tạp và cá dữ còn sót lại trong ao. Sau khi diệt tạp, dùng vôi bột rải đều đáy và mái bờ với lượng vôi từ 7 – 10 kg/100m2. Phơi nắng đáy ao 1-2 ngày và cho nước vào ao từ từ qua lưới chắn lọc, khi mực nước cao đạt yêu cầu thì tiến hành thả cá bố mẹ.

  1. Lựa chọn cá bố mẹ nuôi vỗ

Có thể chọn cá để nưôi làm cá hậu bị từ những đàn cá thịt nuôi trong ao hoặc trong bè. Ðàn hậu bị được nuôi đến năm thứ hai thì lựa những cá thể tốt nhất để làm đàn cá bố mẹ chính thức. Chọn những con khỏe mạnh, ngoại hình cân đối, hoàn chỉnh không bị dị hình, di tật, trọng lượng của cá tra và ba sa từ 3 – 4 kg, có độ tuổi từ 3 năm trở lên và nên lựa chọn đều nhau về quy cỡ. Những cá khỏe và thể trọng lớn sẽ thành thục tốt, hệ số thành thục và sức sinh sản cao (có nhiều trứng). Không nên chọn cá quá nhỏ để đưa vào nuôi vỗ, vì cá nhỏ sẽ có chất lượng sản phẩm sinh dục sẽ kém. Nên chọn những cá có nguồn gốc xa nhau, của nhiều đàn cá thịt ở các ao khác nhau nhằm tránh sự cận huyết, vì xảy ra cận huyết sẽ làm giảm sức sống của các thế hệ con cháu về sau, chúng sẽ chậm lớn, nhiều cá thể bị dị hình, sức đề kháng với bệnh tật kém.

Mật độ nuôi vỗ cá bố mẹ như saụ: với cá tra nuôi vỗ trong ao nên thả 1 kg cá bố mẹ trong 5 m3 nước, cá ba sa thì 1 kg bố mẹ trong 10m3 nước. Nếu nuôi vỗ trong bè thì thả cá tra 5 – 7 kg/m3, cá ba sa 3 – 4 kg/ m3. Có thể nuôi chung cá đực, cái trong một ao hoặc bè, tỷ lệ nuôi đực/cái là 1/1. – Ðể theo dõi được chặt chẽ và chính xác từng cá thể, nên dùng biện pháp đánh số cho cá. Với cá tra và ba sa do có phần mặt trên xương sọ của đầu khá rộng nên có thể dùng que nhọn đầu để đánh dấu thứ tự cá bố mẹ lên đó. Dùng số La mã đánh số cho cá cái, số Ả rập cho cá đực. Mỗi lần kéo cá để kiểm tra sẽ ghi lại được tình trạng và mức độ phát dục theo đúng thứ tự từng con cá bố mẹ đã được đánh số. Sau đó cứ khoảng 2 – 3 tháng nên gạch lại số cũ để tránh tình trạng lẫn lộn do số bị mờ. Có thể dùng thẻ đeo số cho cá hoặc đánh dấu bằng thẻ từ nếu có điều kiện (vì dấu từ rất đắt, thường chỉ dùng cho việc đánh dấu trong nghiên cứu chọn giống). Khi cá đã thành thục và phân biệt rõ đực cái thì ta cắt luôn vây mỡ của cá đực, biện pháp này giúp cho nhận biết cá đực rất nhanh và chính xác. Vây mỡ của cá mọc lại rất chậm và có thể hai năm mới phải cắt lại một lần. Lúc này số đánh dấu trên đầu cá đực giúp cho biết tình trạng phát dục, như cá đã có tinh dịch hay chưa, có nhiều hay ít.

  1. Mùa vụ, thời gian nuôi vỗ và sinh sản

Mỗi năm sau khi kết thúc mùa sinh sản nhân tạo, đàn cá bố mẹ được đưa vào nuôi hồi sức, sau đó phải được kiểm kê, đánh giá và chọn lọc để chuẩn bị nuôi vỗ cho mùa sinh sản tiếp theo. Tùy theo nhiệm vụ, yêu cầu thị trường, cũng như năng lực và cơ sở vật chất của từng cơ sở, từng trại giống để tính toán số lượng cá bố mẹ nuôi vỗ cho phù hợp.

Cá ba sa đang được nuôi để sinh sản chủ yếu tập trung ở các tỉnh Ðồng bằng sông Cửu long, mùa vụ bắt đầu nuôi vỗ từ tháng 10 năm trước. Cá thành thục và cho đẻ tập trung từ tháng 4 – 5, mùa đẻ có thể kéo dài tới tháng 9.

Trong mùa vụ sinh sản nhân tạo cả hai loài cá tra và ba sa, nhiệt độ nước thích hợp cho cá đẻ và ấp trứng từ 28 – 30 độ C.

  1. Thức ăn cho cá bố mẹ

4.1 Nhu cầu thức ăn của cá bố mẹ

Ðể cá phát triển và có sản phẩm sinh dục tốt, cần phải cung cấp thức ăn cho cá đủ về số lượng và chất lượng, cân đối về thành phần dinh dưỡng. Nhu cầu về hàm lượng dinh dưỡng cho cá tra bố mẹ tương đối cao, phải có đủ và cân đối hàm lượng các loại như đạm, đường, mỡ, vitamin, chất khoáng. Ðặc biệt hàm lượng đạm (Protein) phải đảm bảo từ 30% trở lên thì cá mới thành thục tốt, hàm lượng Lipit tối thiểu 10%.

Theo công thức thức ăn, các loại nguyên liệu được nghiền nát , phối trộn đều và nấu chín. Lò nấu thức ăn đặt trên sàn bè để thuận tiện cung cấp thức ăn cho cá. Thức ăn sau khi nấu chín, để nguội có thể ép viên hoặc vo thành nắm nhỏ rồi rải cho cá ăn. Cũng có thể dùng máy ép đùn đưa thức ăn trực tiếp xuống bè nuôi.

 4.2 Thức ăn viên công nghiệp

Thức ăn cho cá bố mẹ phải có hàm lượng đạm 30%, dạng nổi. Thức ăn viên sử dụng cho cá phải đảm bảo hoàn toàn không chứa các hoá chất hoặc thuốc kháng sinh bị cấm sử dụng và dư lượng các chất được phép sử dụng phải trong mức giới hạn cho phép theo quyết định số 01-2001/BTS ngày 20/01/2001 của Bộ Thuỷ Sản.

4.3 Cho cá ăn

Mỗi ngày cho cá ăn 2 lần, buổi sáng (7 – 8 giờ) và buổi chiều (16 – 17giờ). Khẩu phần cho cá ăn hàng ngày 2 – 3% thể trọng. Trong ao nên cho thức ăn vào sàng (hoặc nia) và treo cách đáy ao 25 – 30cm. Nên cho cá ăn ở nhiều điểm (nhiều sàng ăn) để cá được ăn đều. Không đổ thức ăn một lượt xuống ao hoặc bè mà rải từ từ xuống ao hoặc bè cho tất cả cá đều được ăn. Không cho cá ăn những thức ăn bị ôi thiu, những thức ăn bị mốc hoặc qúa hạn sử dụng.

Hàng ngày phải quan sát hoạt động và khả năng ăn thức ăn cuả cá để kịp thời điều chỉnh tăng giảm lượng thức ăn cho phù hợp. Sau khi cá ăn khoảng 2 giờ nên kiểm tra sàng ăn để xem mức ăn của cá. Vào thời gian đầu mới nuôi vỗ, cá ăn mạnh nên khẩu phần ăn cao hơn những giai đoạn khác (thức ăn hỗn hợp có thể tới 8%, thức ăn công nghiệp tới 3%). Giai đoạn tuyến sinh dục cá bước vào thành thục và chuẩn bị đẻ trứng thì cá ăn kém đi, khẩu phần ăn giảm xuống. Những ngày thời tiết nóng, nhiệt độ nước ao cao trên 320C có thể làm cho cá ăn ít hơn hoặc thậm chí bỏ ăn. Cá nuôi trong bè ở những vùng ảnh hưởng thủy triều nên cho ăn vào lúc triều cường (thủy triều lên) hoặc vào lúc nước chảy mạnh để cá không bị mất sức và thoải mái sau khi ăn no.

  1. Quản lý ao và bè nuôi vỗ cá bố mẹ

Ao nuôi vỗ cá bố mẹ phải thay nước thường xuyên để giữ cho môi trường ao nuôi sạch và cá khoẻ mạnh. Có thể thay nước bằng thủy triều hoặc dùng máy bơm.Thời gian đầu nuôi vỗ phải thay nước ít nhất mỗi tuần một lần, mỗi lần 20% thể tích nước trong ao.Từ tháng thứ ba trở đi cần thay nước mỗi ngày 10-20% thể tích để kích thích cá thành thục tốt. Khi thấy chất lượng nước ao bị xấu phải thay nhiều nước hơn lượng nước thay định kỳ để môi trường ao trở lại bình thường.

  1. Kiểm tra sự phát dục của cá bố mẹ

Kiểm tra lần đầu sau khi nuôi vỗ được 2 tháng nhằm đánh giá độ béo và sức khoẻ của cá. Tháng thứ ba bắt đầu kiểm tra trứng và tinh dịch của cá để đánh giá mức độ phát dục và điều chỉnh chế độ nuôi vỗ hợp lý. Khi kéo bắt cá bố mẹ, nên dùng lưới loại sợi mềm, tốt nhất là loại bằng sợi dệt, không có gút để tránh làm xây sát cá. Dùng băng ca vải mềm may theo kích thước thích hợp với độ lớn của cá để giữ cá khi kiểm tra. Dùng que thăm trứng để lấy trứng cá cái và vuốt bụng cá đực xem tinh dịch. Từ tháng thư tư khi buồng trứng của đa số cá cái chuyển sang giai đoạn IV và nhiều cá đực đã có tinh dịch, cần kiểm tra mỗi tháng 2 lần. Mỗi lần kiểm tra phải ghi chép đầy đủ các số liệu của từng cá thể đực cái đã được đánh dấu (về chiều dài, trọng lượng cơ thể, tình trạng sức khoẻ, bệnh tật, kích thước vòng bụng và độ mềm.). Dùng tay sờ nắn bụng cá và cảm nhận độ mềm của bụng để đánh giá sự phát dục. Dùng que thăm trứng lấy trứng từng cá cái ra xem mức độ thành thục và vuốt kiểm tra tinh dịch cá đực. Cá được đánh dấu theo dõi cẩn thận số cá đã thành thục để dự định ngày cho đẻ. Phải ngưng cho cá ăn trước khi kiểm tra.

Theo Báo Khuyến Nông (20/05/2024)

dac-diem-sinh-hoc-ca-tra-2

Mô hình kỹ thuật nuôi cá tra

MÔ HÌNH KỸ THUẬT NUÔI CÁ TRA

AN TOÀN SINH HỌC

Để thực hiện nuôi cá tra theo hướng phát triển bền vững nhằm ổn định nguồn nguyên liệu cho các nhà tiêu dùng và xuất khẩu, người nuôi cần tuân thủ các bước sau:

Vị trí nuôi

Ao nuôi phải nằm trong vùng quy hoạch nuôi đã được Uỷ Ban Nhân Dân TP. Cần Thơ hoặc các ngành chức năng phê duyệt.

Ao có kết cấu đất đảm bảo giữ được nước khi cần thiết, có nguồn nước tốt phù hợp cho cá phát triển, giao thông thuận lợi và các chỉ tiêu thuỷ lý, thuỷ hoá cần đạt như sau:

  • PH: 7 – 8
  • Ôxy hoà tan: > 3mg/lít
  • N-NH3: 1mg/lít
  • Các chỉ tiêu về hàm lượng kim loại nặng như: chì, Cadimi,… phải nằm trong giới hạn cho phép.

Thiết kế ao nuôi

Diện tích: tuỳ vào điều kiện của nông hộ. Tuy nhiên, diện tích từ 0,5 – 1 ha là phù hợp cho nuôi cá tra theo hình thức này. Ao phải có bờ chắc chắn dảm bảo giữ được nước trong mùa khô và không bị tràn trong mùa mưa lũ.

Cần có hồ sơ ghi lại các khâu quan trọng như: địa chỉ cơ sở mua giống, thời gian mua giống, thời gian thả giống, cơ sở bán thức ăn, thuốc thú y thuỷ sản, loại hoá chất sử dụng… để khi cần thiết sẽ truy được nguồn gốc.

Thời vụ thả giống

Ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long có thể nuôi được quanh năm, nhưng tốt nhất là nuôi 2 năm 3 vụ và giữa 2 vụ nuôi thì ao cần được cải tạo ao thật kỹ.

Giống phải có kích cở từ: 10 – 15cm (khoảng 10 – 12g/con).

Mật độ nuôi: từ 20 – 25 con/m2, tuỳ vào chất lượng nguồn nước nơi nuôi và tuỳ vào trình độ kỹ thuật của người nuôi.

Thức ăn

Trong nuôi cá tra thì thức ăn chiếm tỉ lệ rất lớn trong tổng chi phí nuôi và nó quyết định đến sự phát triển của cá và giá thành sản xuất.

  1. Thức ăn công nghiệp

Thức ăn công nghiệp là loại thức ăn dạng viên, đóng bao sẳn và hàm lượng các vật chất dinh dưỡng cũng được các nhà sản xuất tính sẳn. Để sử dụng thức ăn này có hiệu quả , người nuôi cần tuân thủ một số tiêu chí sau:

  • Chọn các công ty có uy tín và các công ty này được cấp giấy chứng nhận của các cơ quan có chức năng về nhãn mác hàng hoá cũng như chất lượng của sản phẩm.
  • Khi cho cá ăn thì phải dựa vào từng giai đoạn phát triển của cá nuôi:

+ Thường ở 2 tháng đầu cần cho cá ăn thức ăn có hàm lượng đạm khoảng 28 – 30%.Các tháng tiếp theo cho cá ăn thức ăn có hàm lượng đạm khoảng 25 – 26% và 2 tháng cuối thì hàm lượng đạm cho cá chỉ khoảng 20 – 22% là được.
+ Cho cá ăn mỗi ngày 2 lần: sáng từ 8 – 9 giờ, chiều lúc: 16 – 17 giờ. Khẩu phần cho cá ăn khoảng 2 – 3% trọng lượng đàn cá nuôi.

  1. Thức ăn tự chế biến

Vì là thức ăn sẳn có ở địa phương nên khi chế biến cho cá ăn cần theo các tiêu chuẩn sau:

  • Các nguyên liệu có nguồn gốc từ động như cá tạp, bột cá thì phải tươi và không bị nấm mốc.Các nguyên liệu có nguồn gốc thực vật như: tấm, cám, đậu nành,… thì không bị nấm, mốc, mọt,…
  • Không được bổ sung vào thức ăn các loại thuốc, hoá chất mà bộ thuỷ sản cấm sử dụng.
  • Thường xuyên vệ sinh khu vực chế biến thức ăn cũng như các kho chưa thức ăn phải đặt nơi khô ráo sạch sẽ.

* Công thức pha trộn thức ăn tự chế:

Các loại cá tạp và tấm cần nấu chín sau đó để nguội và trộn tất cả các nguyên liệu trên với nhau, đồng thời định kỳ 3 ngày bổ sung Vitamin C vào thức ăn với liều lượng 5g/100Kg thức ăn nhằm tăng cường sức đề kháng cho cá.

Chăm sóc và quản lý ao nuôi

Cần có lịch cho cá ăn hàng ngày và phải tuân thủ đúng thời gian cho cá ăn, khi cho cá ăn cần quan sát các hoạt động bắt mồi của cá để kịp thời điều chỉnh thức ăn.

Thức ăn và liều lượng cho cá ăn cũng như hàm lượng dinh dưỡng trong thức ăn phải phù hợp cho từng giai đoạn phát triển của cá.

Không được sử dụng thức ăn quá hạn sử dụng, thức ăn kém chất lượng, thư căn bị nấm mốc, thức ăn có chứa các kháng sinh và hoá chất cấm sử dụng của Bộ Thuỷ Sản (nay là Bộ Nông Nghiệp và PTNT).

Phải lập sổ ghi chép đầy đủ các chi tiết như: ngày giờ cho cá ăn, lượng thức ăn, nguồn gốc thức ăn, các nguyên liệu làm thức ăn, các hoá chất, thuốc sử dụng trộn vào thức ăn cho cá nuôi.

Định kỳ kiểm tra các chỉ tiêu về chất lượng nước như: pH, Ôxy, N-NH3, H2S,… theo dõi tình trạng sức khoẻ của cá thông qua các hoạt động bơi lội và bắt mồi của cá.

Khi cá bị bệnh phải xử lý kịp thời như: làm các xét nghiệm mẫu cá bệnh trước khi chữa trị. Khi trị bệnh cho cá phải áp dụng các kỹ thuật đúng như: dùng đúng thuốc, liều lượng hợp lý, thời gian hợp lý,… theo hướng dẫn của cán bộ chuyên môn. Cá bị bệnh chết phải xử lý triệt để không để lây lan từ ao này sang ao khác.Cần ghi lại kết quả điều trị cho cá như: kết quả xét nghiệm, thời gian điều trị, loại thuốc điều trị, cách điều trị.

Cần thay nước hàng ngày với lượng nước thay khoảng 20% – 30% tổng lượng nước trong ao. Nước thải trước khi cho ra môi trường bên ngoài phải có biện pháp xử lý làm sạch. Luôn duy trì chất lượng nước tốt dựa vào các chỉ tiêu thuỷ lý, thuỷ hoá phù hợp với nhu cầu phát triển của cá.

Thường xuyên cập nhật các thông tin của các nghành chức năng như: Chi Cục Thuỷ Sản, Trung Tâm Khuyến Nông về giá cả thị trường cá nuôi, các dự báo về môi trường nước nuôi, thời vụ nuôi thích hợp để điều chỉnh và bố trí lịch thời vụ nuôi thích hợp.

Thu hoạch

Không được thu hoạch cá đang trong thời gian cá bệnh. Cần gửi mẫu đến cơ quan chức năng kiểm tra dư lượng thuốc, hoá chất trước khi thu hoạch.

Ngừng sử dụng thuốc điều trị bệnh trước khi thu hoạch theo quy định của các ngành chức năng. Ngừng cho cá ăn thức ăn công nghiệp 1 ngày và nếu thức ăn tự chế thì ngừng cho cá ăn 2 ngày trước khi thu hoạch.

Theo Báo Khuyến Nông (20/05/2024)

dac-diem-sinh-hoc-ca-tra-1

Đặc điểm sinh học của cá tra

Cá tra là một trong những loài cá có giá trị kinh tế phổ biến ở Đông Nam Á (camphuchia, Thai Lan, Indonesia,…) là một trong các loài nuôi quan trọng của khu vực này. Đồng bằng Nam Bộ đã có truyền thống nuôi cá Tra phổ biến trong ao và bè. Năng suất nuôi cá tra rất cao, trong ao đạt tới 60 – 70 tấn/ha, trong bè có thể đạt tới 100 – 300 kg/m2 nước bè nuôi. Cá tra đang trở thành một đối tượng có giá trị xuất khẩu trong thời gian gần đây. Không những thế, cá tra còn là một món ăn quen thuộc trong bữa cơm hằng ngày của nhiều gia đình. Không chỉ chứa nhiều dưỡng chất tốt cho sức khỏe, loại nguyên liệu này còn được chế biến thành nhiều món ăn đa dạng và độc đáo.

Đặc điểm sinh học cá tra

Phân loại

Cá tra là một trong số 11 loài thuộc họ cá tra ( Pangasiidae) đã được xác định ở Sông Cửu Long.

Phân loại cá tra:

  • Bộ cá nheo Siluriformes
  • Họ cá tra Pangasiidae
  • Giống cá tra dầu Pangasianodon
  • Loài cá tra Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage 1878).

Cá tra là một loài cá nuôi truyền thống trong ao của nông dân ở các tỉnh ĐBSCL.

Phân bố

Cá tra phân bố ở lưu vực sông Mê Kông, có mặt ở cả 4 nước Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam. Ở nước ta những năm trước đây khi chưa có cá sinh sản nhân tạo, cá bột và cá giống được vớt trên sông Tiền và sông Hậu. Cá trưởng thành chỉ thấy trong ao nuôi, ít gặp trong tự nhiên, do cá có tập tính di cư ngược dòng sông Mê Kông để sinh sống và tìm nơi sinh sản tự nhiên. Khảo sát chu kỳ di cư của cá tra ở địa phận Campuchia cho thấy cá ngược dòng từ tháng 10 đến tháng 5 và di cư về hạ lưu từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm.

Ở Việt Nam cá tra không đẻ trong ao nuôi, cũng không có bãi đẻ tự nhiên. Cá tra đẻ ở Campuchia và cá bột theo dòng nước về Việt Nam.

Hình thái, sinh lý

Cá tra là cá da trơn, thân dài, dẹp ngang, lưng xám đen, bụng hơi bạc, miệng rộng, đầu nhỏ vừa phải, mắt tương đối to. Vây lưng cao, có một gai cứng có răng cưa. Vây ngực có ngạnh, bụng có 8 tia phân nhánh, trong khi các loài khác có 6 tia (Phạm Văn Khánh, 1996).

Cá có khả năng sống tốt trong điều kiện ao tù nước đọng, nhiều chất hữu cơ, oxy hòa tan thấp, có thể nuôi với mật độ cao và có thể sống được ở vùng nước lợ (nồng độ muối 7 -10‰).

Đặc điểm dinh dưỡng

Cá tra khi hết noãn hoàng thì thích ăn mồi tươi sống, vì vậy chúng ăn thịt lẫn nhau ngay trong bể ấp và chúng vẫn tiếp tục ăn nhau nếu cá ương không được cho ăn đầy đủ, thậm chí cá vớt trên sông vẫn thấy chúng ăn nhau trong đáy vớt cá bột. Ngòai ra khi khảo sát cá bột vớt trên sông, còn thấy trong dạ dày của chúng có rất nhiều phần cơ thể và mắt cá con các lòai cá khác. Dạ dày của cá phình to hình chữ U và co giãn được, ruột cá tra ngắn, không gấp khúc lên nhau mà dính vào màng treo ruột ngay dưới bóng khí và tuyến sinh dục. Dạ dày to và ruột ngắn là đặc điểm của cá thiên về ăn thịt. Ngay khi vừa hết noãn hoàng cá thể hiện rõ tính ăn thịt và ăn lẫn nhau, do đó để tránh hao hụt do ăn nhau trong bể ấp, cần nhanh chóng chuyển cá ra ao ương.

Trong quá trình ương thành cá giống trong ao, chúng ăn các loại động vật phù du có kích thước nhỏ và thức ăn nhân tạo. Khi cá lớn thể hiện tính ăn rộng, ăn đáy và ăn tạp thiên về động vật.

Trong điều kiện thiếu thức ăn, cá có thể sử dụng các loại thức ăn bắt buộc khác như mùn bã hữu cơ, rễ cây thủy sinh, rau quả và thức ăn có nguồn gốc động vật như tôm tép, cua, côn trùng, ốc và cá. Trong ao nuôi cá tra có khả năng thích nghi với nhiều loại loại thức ăn khác nhau như: thức ăn tự chế, thức ăn công nghiệp, cám, tấm, rau muống… Thức ăn có nguồn gốc động vật giúp cá lớn nhanh hơn (Nguyễn Văn Kiểm, 2004).

Đặc điểm sinh trưởng

Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, lúc còn nhỏ cá tăng nhanh về chiều dài. Cá ương trong ao sau 2 tháng đạt chiều dài từ 10-12cm (14 – 15gam). Từ khoảng 2,5kg trở đi, mức tăng trọng lượng nhanh hơn so với chiều dài cơ thể.

Cá nuôi trong ao 1 năm đạt từ 1 – 1,5kg/con (năm đầu), những năm về sau cá tăng trọng nhanh hơn, có khi đạt tới 5 – 6kg/năm tuỳ thuộc môi trường sống và sự cung cấp thức ăn cũng như loại thức ăn có hàm lượng đạm nhiều hay ít.

Đặc điểm sinh sản

Cá tra không sinh sản trong ao nuôi, cá có tập tính di cư sinh sản trên những khúc sông có điều kiện sinh thái phù hợp. Trong tự nhiên chỉ gặp cá thành thục trên sông ở địa phận của Campuchia và Thái Lan. Ở Viết Nam cá tra cũng không có bãi sinh sản tự nhiên. Cá sinh sản ở Campuchia, cá bột theo dòng nước về Việt Nam (Nguyễn Văn Kiểm, 2004).

Tuổi thành thục của cá tra trên sông Mekong 3 – 4 năm tuổi. Cá tra có tập tính di cư ngược dòng. Mùa vụ sinh sản của cá trong tự nhiên bắt đầu từ tháng 5 – 7 âm lịch hàng năm. Trọng lượng cá thành thục lần đầu từ 2,5 – 3 kg (Nguyễn Văn Kiểm, 2004).

Cá tra không có cơ quan sinh dục phụ, nếu chỉ nhìn hình dáng bên ngoài thì khó phân biệt được cá đực và cá cái. Bắt đầu phân biệt được cá đực cái từ giai đoạn II, các giai đoạn sau, buồng trứng tăng về kích thước, hạt trứng màu vàng, tinh sào có hình dạng phân nhánh, màu hồng chuyển dần sang màu trắng sữa. Hệ số thành thục của cá tra khảo sát được trong tự nhiên từ 1,76 – 12,94 (cá cái) và từ (0,83 – 2,1 (cá đực) cỡ cá từ 8 – 11kg (Nguyễn Văn Trọng, 1989). Trong ao nuôi vỗ, hệ số thành thục cá tra cái có thể đạt 19,5%.

Số lượng trứng đếm được trong buồng trứng của cá gọi là sức sinh sản tuyệt đối, sức sinh sản tuyệt đối của cá tra từ 200.000 đến vài triệu trứng. Sức sinh sản tương đối có thể là 135.000 trứng/kg cá cái. Kích thước của trứng cá tra tương đối nhỏ và có tính dính. Trứng sắp đẻ có đường kính trung bình 1mm, khi đẻ ra trứng trương nước thì đường kính trứng có thể là 1,5 – 1,6 mm.

Trong sinh sản nhân tạo, ta có thể nuôi thành thục sớm và cho đẻ sớm hơn trong tự nhiên (từ tháng 3 dương lịch hàng năm), cá tra có thể tái phát dục 1 – 3 lần trong một năm.

Giá trị kinh tế của cá Tra

Ảnh hưởng của dịch Covid-19 khiến xuất khấu cá tra sang thị trường Trung Quốc giảm mạnh trong hai tháng đầu năm nay. Trong khi đó, thị trường Mỹ sau thời gian dài ảm đạm đã trở lại là thị trường số 1 của cá tra Việt Nam.

Theo Báo Khuyến Nông (20/05/2024)